Chào mừng kỷ niệm 36 năm Ngày Ngày truyền thống thanh niên công nhân thành phố (15/10/1982-15/10/2018)

6 Bài lý luận chính trị cho đoàn viên, thanh niên (Phần I)

Thứ sáu - 02/11/2012 10:30

CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG, CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
PHẦN I
CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG, CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
 
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (năm 1991) đã thông qua “cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ”, trong đó khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”[1]. Đây là kết luận rút ra từ kết quả tổng kết sâu sắc thực tiễn lịch sử của Đảng ta và của cách mạng Việt Nam từ khi thành lập đến nay. Đó là một quyết định có tầm lịch sử quan trong, thể hiện bước tiến trong tư duy lý luận của Đảng ta.

Hơn 80 năm qua, chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã dẫn dắt dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa, trên nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”[2].
Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội X, 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (2001-2010), 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 1/2011) đã rút ra một số bài học kinh nghiệm. trong đó, bài học đầu tiên là: “Trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”[3].

Vì vậy, việc nghiên cứu, học tập để nắm vững và vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là trách nhiệm và nhiệm vụ hàng đầu của mỗi cán bộ, đoàn viên và thanh niên Việt Nam.
 
Câu hỏi 1: Vì sao nói chủ nghĩa Mác – Lênin là thành tựu trí tuệ của loài người?
Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, nhất là từ khi xuất hiện các giai cấp và đấu tranh giai cấp, quàn chúng lao động luôn luôn ước mơ, mong muốn được sống trong xã hội bình đẳng, công bằng, có một cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Vì vậy, họ liên tục có những cuộc đấu tranh để thực hiện ước mơ, khát vọng đó. Những tư tưởng tiến bộ, nhân đạo đã hình thành và phát triển trong lịch sử nhân loại đều mong muốn giải phóng các giai cấp cần lao khỏi áp bức, bất công.

Đến giữa thế kỷ XIX, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động chống lại sự áp bức của giai cấp tư sản phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi có một lý luận khoa học dẫn đường. Chủ nghĩa Mác ra đời đã đáp ứng đòi hỏi cấp bách đó.

Các Mác (1818-1883), Ph.Ăngghen (1820-1895) đã kế thừa có phê phán những thành tựu khoa học và giá trị tư tưởng của nhân loại được trước đó. Bằng lao động khoa học và sang tạo, hai ông đã phân tích xã hội tư bản, tổng kết thực tiễn phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Các Mác và Ph.Ăngghen đã xây dựng nên học thuyết cách mạng, khoa học và nhân đạo để giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Trong học thuyết của mình, hai ông đã chứng minh sự sụp đổ tất yếu của chủ nghĩa tư bản và sự quá độ sang một xã hội mới, không có chế độ người bốc lột người. Đó là chủ nghĩa xã hội, giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản.

Chủ nghĩa Mác ra đời là thành tựu trí tuệ của loài người, phản ánh thực tiễn xã hội, nhất là cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng thế giới. Đó là tất yếu khách quan trong tiến trình phát triển lịch sử của tư tưởng nhân loại.

Đầu thế kỷ XX, tình hình thế giới đã xuất hiện những đặc điểm mới: Chủ nghĩa tư bản chuyển sang một giai đoạn tột cùng của nó là chủ nghĩa đế quốc. Sự phát triển không đều của chủ nghĩa đế quốc tạo tiền đề cho cách mạng vô sản có thể nổ ra và thắng lợi ở một số nước, thậm chí ở một số nước mắt xích yếu nhất của nó.

Trong hoàn cảnh đó, Lênin (1870-1924) đã vận dụng và phát triển sáng tạo toàn diện học thuyết của Mác - Ph.Ăngghen để giải quyết những vấn đề cơ bản của cách mạng vô sản. Lênin ra sức bảo vệ lý luận Mác, phê phán không khoan nhượng với mọi loại kẻ thù có tư tưởng: xét lại, cơ hội… đồng thời, ông đã chú trong tổng kết kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân thế giới, dựa trên những kết quả mới của khoa học, bổ sung, phát triển cơ sở lý luận Mác - Ph.Ăngghen với tinh thần biện chứng duy vật.

Trên cơ sở phân tích sâu sắc về bản chất của chủ nghĩa đế quốc và thực tiễn của phong trào giai cấp công nhân Nga, Lênin đã lãnh đạo Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, mở ra thời đại mới – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.

Sự phát triển sảng tạo của học thuyết Mác của Lênin đã làm cho chủ nghĩa cộng sản khoa học trở thành hệ thống lý luận thống nhất của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Giai đoạn phát triển mới của chủ nghĩa Mác đã gắn liền với tên tuổi của Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân được gọi là chủ nghĩa Mác – Lênin.

Với bản chất khoa học và cách mạng ngày nay, chủ nghĩa Mác – Lênin đã, đang tiếp tục được vận dụng, bổ sung và phát triển trong thực tiễn đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc trên thới giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
 
Câu hỏi 2: Chủ nghĩa Mác – Lênin gồm những bộ phận nào? Nội dung cơ bản của những bộ phận đó?
Chủ nghĩa Mác – Lênin là một hệ thống lý luận thống nhất gồm ba bộ phận: triết học Mác – Lênin, kinh tế chính trị Mác – Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học. 
Triết học Mác – Lênin (bao gồm chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử) là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Triết học Mác – Lênin đem lại cho con người thế giới quan khoa học và phương pháp luận đúng đắn để nhận thức và cải tạo thế giới.

Kinh tế chính trị Mác – Lênin nghiên cứu quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, tức quan hệ sản xuất. Với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, kinh tế chính trị Mác – Lênin chỉ rõ bản chất, những quy luật kinh tế chủ yếu hình thành, phát triển và đưa chủ nghĩa tư bản tới chỗ diệt vong. Với phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa, kinh tế chính trị Mác – Lênin nghiên cứu những quy luật phát triển của quan hệ sản xuất mới, con đường xây dựng một xã hội không có áp bức, bất công vì tự do, ấm no, hạnh phúc cho mọi người. Giai đoạn đầu của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa là chủ nghĩa xã hội.

Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu những quy luật chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và phương hướng xây dựng xã hội mới. Chủ nghĩa xã hội khoa học đã chứng minh rằng, việc xã hội hoá lao động trong chủ nghĩa tư bản đã tạo ra cơ sở vật chất chủ yếu cho sự ra đời tất yếu của chủ nghĩa xã hội. Cơ sở lý luận của sự chuyển biến đó là chủ nghĩa Mác – Lênin và lực lượng xã hội thực hiện sự chuyển biến đó là giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
 
Câu hỏi 3:  Bản chất khoa học và cáhch mạng chủ nghĩa Mác – Lênin được thể hiện ở những nội dung chủ yếu nào?
Chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời trên cơ sở những tri thức tiên tiến của thời đại về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và những thành tựu về lý luận trong triết học, kinh tế chính trị và tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Kế thừa, tiếp thu và phát triển những thành tựu của nhân loại, Các Mác, Ph.Ăngghen, Lênin đã sáng tạo ra học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp vô sản, đó là chủ nghĩa xã hội khoa học. Do vậy, chủ nghĩa chủ nghĩa Mác – Lênin là thành tựu trí tuệ chung của nhân loại.

Chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết duy nhất đặc ra mục tiêu, chỉ rõ con đường giải phóng triệt để giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới thoát khỏi tình trạng bị nô dịch và bóc lột thoát khỏi nghèo và tha hoá về nhiều mặt. Đồng thời chỉ ra lực lượng cách mạng thực hiện sự nghiệp giải phóng và phát triển xã hội là giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đem lại niềm tin vào khả năng và sức mạnh của chính mình.

Học thuyết đó cũng chỉ ra quy luật của sự giải phóng và phát triển xã hội. Đó là quy luật về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, về sự chuyển biến từ hình thái kinh tế xã hội này sang hình thái kinh tế xã hội khách không phải diễn ra một cách tự phát mà phải thông qua cuộc đấu tranh giai cấp gay go, quyết liệt. Từ đó, Mác - Ph.Ăngghen và Lênin đã trực tiếp nghiên cứu sự vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tìm ra quy luật về sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản cũng như sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội như một tất yếu thông qua cuộc cách mạng xã hội.

Bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin còn thể hiện ở chỗ: Đó là học thuyết mở, không cứng nhắc, bất biến mà đòi hỏi luôn được bổ sung, tự đổi mới, tự phát triển trong dòng phát triển của nhân loại. Mác - Ph.Ăngghen cũng như Lênin đã nhiều lần khẳng định học thuyết của các ông không phải là cái đã xong xuôi hẳn, còn nhiều điều các ông chưa có điều kiện thời gian, cơ hội nghiên cứu. Theo các ông, phát triển lý luận Mác – Lênin là trách nhiệm của các thế hệ tiếp sau, của những người mácxít chân chính, nếu họ không muốn trở nên lạc hậu với thời đại của họ. Trên thực tế, ngay trong quá trình hình thành và phát triển hệ thống quan điểm lý luận của minh, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin cũng đã điều chỉnh một số luận điểm đã trở nên lạc hậu, phát triển, bổ dung những quan điểm lý luận mới.

Chủ nghĩa Mác – Lênin là một học thuyết mở, không cứng nhắc và giáo điều; đồng thời, có giá trị bền vững, xét trong tinh thần biện chứng, nhân đạo và hệ thống tư tưởng cốt lõi của nó. Kiên định những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin là trung thành với bản chất kho học và cách mạng của nó để không ngừng phát triển, làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin ngày càng hoàn thiện và gắn liền với thực tiễn.
 
Câu hỏi 4: Tư tưởng Hồ Chí Minh là gì? Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh?
Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành và phát triển trong qua trình lãnh tự Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin  vào điều kiện Việt Nam, lãnh đạo Đảng và nhân dân ta đấu tranh giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc, xây dựng xã hội mới. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng những nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng nước ta.  Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6/1991), trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, lần đầ tiên Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra khái niệm về tư tưởng Hồ Chí Minh và khẳng định: cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2011), khái niệm và nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh được xác định rõ hơn.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là thệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại.

Tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa to lớn với cách mạng Việt Nam và dân tộc Việt Nam. Cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng ta, soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta.

Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ những nguồn gốc chủ yếu sau:
+ Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta.
Từ chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, tiếp thu bản chất khoa học và cách mạng của học thuyết này. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người đã vận dung và phát triển sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin để giải quyết thành công những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Kết quả sự vận dụng sáng tạo và phát triển đó đã bổ sung vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin.

+ Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự kế thừa các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Chủ nghĩa yêu nước truyền thống ý chí độc lập, tự cường, đoàn kết, nhân ái, khoan dung, tinh thần cộng động, lạc quan, yêu đời, cần cù, khoan dung, tinh thần cộng đồng, lạc quan yêu đời, cần cù, thông minh, sáng tạo… của dân tộc Việt Nam được Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng và phát triển. Tư tưởng của Người là sự kết tinh những tinh hoa văn hoá, tinh thần, trí tuệ của dân tộc Việt Nam. Vì vậy, Đảng ta đã khẳng định: Dân tộc ta, nhân dân ta, non song đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại. Và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta.

+ Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của việc tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.
Trong suốt cuộc đời, đặc biệt trong quá trình đi tìm con đường cứu nước, Hồ Chí Minh luôn tìm tòi, học hỏi, tiếp thu có chọn lọc, có phê phán các quan điểm của các trường phái triết học, các trào lưu tư tưởng trên thế giới, cả phương Đông và phương Tây, vận dụng vào thực tiễn Việt Nam, phát triển lên trở thành tư tưởng của mình.

+ Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất cá nhân của người. Những nhân tố chủ quan đó gồm:
Khả năng tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo cùng với sự nhận xét, phê phan tinh tường, sáng suốt trong việc nghiên cứu và tìm hiểu.
Sự khổ công học tập nhằm chiếm lĩnh vốn tri thức phong phú của nhân loại, kinh nghiệm đấu tranh của nhân dân thế giới trong phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân quốc tế.
Trong quá trình đi đến chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã trải qua cuộc sống của người công nhân lao động thực sự, luôn hoà mình với đời sống của giai cấp cần lao. Đó chính là yếu tố then chốt, quyết định bước chuyển từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác – Lênin, để Người trở thành một chiến sỹ cách mạng nhiệt thành, thương yêu những người cùng khổ, sẳn sàng hy sinh vì độc tập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của đồng bào.
Cùng với những năng lực bẩm sinh, những phẩm chất cao quý trên đã giúp Hồ Chí Minh tiếp nhận, chọn lọc, chuyển hoá, phát triển những tin hoa của dân tộc và thời đại thành tư tưởng đặc sắc của mình – tư tưởng Hồ Chí Minh.
 
Câu 5: Tư tưởng Hồ Chí Minh có những nội dung cơ bản nào?
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã nêu những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh là:
Tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
Tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại.
Tư tưởng về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc.
Tư tưởng về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân.
Tư tưởng về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.
Tư tưởng về phát triển kinh tế và văn hoá, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Tư tưởng đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
Tư tưởng về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau.
Tư tưởng về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân.
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh có  nội dung rất phong phú, toàn diện và sâu sắc về những vấn đề rất cơ bản của cách mạng Việt Nam. Cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Dưới ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đã vững bước tiến lên giành những thắng lợi lịch sử có ý nghĩa thời đại sâu sắc. Hiện nay, đất nước ta đang tiếp tục sự nghiệp đổi mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, càng cần phải học tập nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn cách mạng nước ta, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
 
Câu 6: Vì sao nói đi lên chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn tất yếu khách quan của cách mạng Việt Nam?
Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, nhân dân ta đã đứng lên đấu tranh chống kẻ thù xâm lượng. Từ năm 1858 đến trước năm 1930 đã có hàng trăm phong trào, cuộc khởi nghĩa oanh ljie65t dưới sự lãnh đạo của các sỹ phu, các nhân sỹ, trí thức yêu nước… theo nhiều khuynh hướng khác nhau, nhưng đều bị thực dân Pháp đàn áp tàn bạo và thất bại. nguyên nhân chính là chưa có đường lối cứu nước đúng đắn theo một hệ tư tưởng tiên tiến, khoa học và cách mạng. Đó là sự khủng hoảng đường lối cứu nước.

Đầu thế kỷ XX, toàn bộ trí lực của dân tộc hướng vào tìm kiếm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc.
Tháng 6/1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh) ra đi tìm đường cứu nước. Bôn ba qua nhiều nước trên thế giới, vừa lao động, vừa quan sát, nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm các cuộc các mạng tư sản điển hình, như cách mạng tư sản Pháp, chiến tranh giành độc lập ở Mỹ, Người còn tham gia hoạt động trong Đảng xã hội Pháp, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Người đã rút ra nhiều bài học quý báu và bổ ích, là cơ sở cho sự lựa chọn con đường cách mạng của mình.

Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin, Người đã tìm thấy con đường duy nhất đúng đắn để cứu nước, giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp. Đó là tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, gắn phong trào cách mạng giải phóng dân tộc trong nước với phong trào cách mạng thế giới. Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khách con đường cách mạng vô sản”. Từ đó, Người truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào nước ta, sáng tập và rèn luyện Đảng ta, lãnh đạo Đảng và nhân dân giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, toàn dân ta đi theo Đảng. Đó là sự lựa chọn của lịch sử Việt Nam, của toàn dân tộc Việt Nam.

Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga thành công đã mở ra thời đại mới – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Chính tính chất của thời đại mới đã tạo ra khả năng hiện thực cho những cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Những khả năng hiện thực này đem lại nhận thức mới mẻ và triệt để trong khái niệm cũng như giải pháp để giải quyết các vấn đề độc lập dân tộc.

Trong qua hệ giữa các quốc gia, dân tộc, chủ nghĩa xã hội đảm bảo quyền tự quyết dân tộc, quyền lựa chọn chế độ chính trị, lựa chọn con đường và mô hình phát triển, xoá bỏ tình trạng dân tộc này bị áp bức, bóc lột, nô dịch dân tộc khách trên thế giới.

Chủ nghĩa xã hội tạo ra sự trao đổi, hợp tác, kinh tế, văn hoa giữa các nước trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của nhau, bình đẳng và cùng có lợi ích. Vì một thế giới hoà bình, không có chiến tranh, bạo lực, bất công, bảo đảm cho cuộc sống binh yên và hạnh phúc. Đó là sự lựa chọn khách quan của thời đại.

Thực tiễn cach mạng nước ta hơn 80 năm qua, Đảng và nhân dân ta luôn kiên trì và thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. chính vì vậy, cách mạng nước ta đã giành được thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại.

+ Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, thanh lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam). Đây là kết quả tổng hợp của các cao trào cách mạng từ ngày thành lập đảng, gồm cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh 1930-1931, cuộc vận động dân chủ 1936-1939, cao trào giải phóng dân tộc 1939-1945. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945 đã xoá bỏ chế độ thuộc địa nửa phong kiến của nước ta, mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

+ Thắng lợi của cuộc khán chiến đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới để giải phóng dân tộc để bảo vệ Tổ quốc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước lên chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trong vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội.

+ Thắng lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” đã củng cố vững chắc cho độc lập dân tộc, từng bước đưa nước ta lên chủ nghĩa xã hội. chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hoà bình độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội, dù gặp nhiều khó khăn thách thức nhưng sẽ có những bước tiến mới theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần XI của Đảng khẳng định một trong những bài học kinh nghiệm lớn đầu tiên là “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội – ngọc cờ vinh quan mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở đảm bảo vững chắc cho độc lập dân tộc”[4].
 
Câu hỏi 7: Nội dung cơ bản của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là gì?
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức bỏ quan việc xác lập địa vị thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa. Với điểm xuất phát từ trình độ phát triển kinh tế xã hội rất thấp, quá trình đó tất yếu phải qua một thời kỳ quá độ lâu dài, với nhiều chặng đường.

Tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991-2011) và 25 năm đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã nêu rõ: Xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Mục tiêu tổng quát khi kết thút thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội hội, với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hoá phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc. Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để đạt được những mục tiêu trên cần thực hiện tốt các phương hướng cơ bản sau đây:

Một là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đây là bước phát triển mới về lý luận của Đảng ta trong quá trình đổi mới. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường được thể hiện qua 4 đặc trưng cơ bản sau:
- Mục tiêu phát triển kinh tế là “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, đẩy mạnh xoá đói, giải nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng…
- Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
- Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, giáo dục, y tế… giải quyết tốt các vấn đề xã hội, vì mục tiêu phát triển con người. Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu qua kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vón, cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội.
- Phát huy quyền làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Hai là, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Từ một nền sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội, tất yếu phải tiến hành công nghiệp hoá. Trong thời đại bùng nổ cách mạng khoa học và công nghệ, công nghiệp hoá phải kết hợp ngay từ đầu với hiện đại hoá, gắn với phát triển kinh tế tri thức.

Ba là, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội.
Văn hoá hiểu theo nghĩa chung là toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội, để xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh phải lấy văn hoá làm nền tảng tinh thần. Đại hội XI tiếp tục khẳng định: “Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sau sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ, làm cho văn hoá gắn kết chặt chẽ và thấm sau vào toàn bộ đời sống xã hội trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạng nội sinh quan trong của phát triển. Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của các dân tộc Việt nam, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”[5]

Bốn là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc.
Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa của nước ta. Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Phát huy dân chủ gắn liền với việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc. Thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các hình thức thực hành dân chủ: dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp ở cơ sở và tự quản trong các cộng đồng dân cư. Đại đoàn kết dân tộc vừa là nguồn lực chủ yếu để xây dựng xã hội mới, vừa là nhân tố quyết  định sự đảm bảo thắng lời bền vững của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta.

Năm là, xây dựng Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Nhà nước pháp quyền là sự tiến bộ của nhân loại trong đó có đặc điểm nổi bật là đảm bảo quyền tối cao của pháp luật. Nhà nước pháp quyền của nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình chủ yếu bằng Nhà nước, thông qua Nhà nước, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhà nước là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay là xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước; xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát các cơ quan công quyền; tiếp tục đổi mới hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp; tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí.

Sáu là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp của cách mạng nước ta. Trong điều kiện hiện nay, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng là “nhiệm vụ then chốt”, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân. Thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng.
Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, lấy nguyên tắc tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.
Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội. đảng lãnh đạo hệ thống chính trị đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiếp pháp và pháp luật.

Bảy là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia.
Dựng nước gắn liền với giữ nước là quy luật lịch sử của dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Trong thời kỳ phát triển mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Bảo đảm an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hoá, an ninh xã hội. Bảo vệ Tổ quốc ngày nay không phỉ chỉ còn bảo vệ lãnh thổ, biên giới, hải đảo, vùng trời, vùng biển mà còn phải bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, nhân dân, bảo vệ kinh tế văn hoá dân tộc, sự nghiệp đổi mới…

Tám là, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.
Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu khách quan đang lôi cuốn nhiều nước tham gia. Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại là phải chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Chủ động về đường lối chính sách và bước đi trong hội nhập. Tích cực chuẩn bị vươn lên, tham gia mạnh mẽ hơn, đầy đủ hơn vào quá trình toàn cầu hoá kinh tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, NXB Sự thật, HN 1991, tr21.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, HN, 2001, tr.83
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia, tr.180
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia, HN, 2011, tr65
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Sự Thật, HN, Tr75, 76.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Đã xem: 1998

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 


 




 


 
cưới hỏi trọn gói ,cuoi hoi tron goi , cho thue ban ghe ,dịch vụ bê tráp , tháp ly, cho thuê chú rể ,bánh cưới ,cổng hoa cưới , cổng bóng ,phông cưới , dịch vụ cưới, cho thue nha bat, cho thuê nhà bạt, bàn ghế đám cưới, thuê bàn ghế đám cưới, nhà bạt đám cưới, nhà bạt đám cưới đẹp, thuê chú rể, phông lụa cưới, phông cưới đẹp , phông cưới hoa giấy , cho thuê sân khấu, phong cuoi dep, đặt cỗ tại nhà ,đặt cỗ cưới , mc đám cưới, cổng bóng, đặt tráp ăn hỏi, cẩm nang cưới, tổ chức sự kiện, to chuc su kien, thap ly cong hoa cong bong cho thue ban ghe dich vu be trap cho thue nha bat cho thue am thanh cho thue anh sang be trap backdrop đám cưới backdrop hoa giấy, thiep cuoi, kinh nghiệm cưới hỏi, kinh nghiệm cưới hỏi, thiep cuoi, in thiep cuoi, thiệp cưới,in thiệp cưới, in cataloguein catalogue gia recho thue ban ghein phong biin the nhuain cardin tem bao hanhin to roiin tui giayin catalogin ky yeucong ty in anin gia rein kep filein profilein lay ngayin tieu de thu